CÔNG CỤ TÀI CHÍNH PHÁI SINH (KỲ 1)


CÔNG CỤ TÀI CHÍNH PHÁI SINH

 

- Xây dựng chuẩn mực kế toán cho công cụ tài chính phái sinh

- Giải pháp hình thành và phát triển thị trường chứng khoán phái sinh tại Việt Nam

 

TS. Hà Thị Ngọc Hà

Phó Vụ trưởng - Vụ chế độ kế toán

và kiểm toán - Bộ Tài chính

 

C

hứng khoán phái sinh (CK

 
PS) là những công cụ được phát hành trên cơ sở những công cụ tài chính đã có như cổ phiếu, trái phiếu, nhằm mục tiêu khác nhau như phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo lợi nhuận. Thị trường CKPS là thị trường phát hành và mua đi bán lại các hợp đồng tài chính, như quyền mua cổ phiếu, chứng quyền, hợp đồng quyền chọn. Các công cụ phái sinh rất phong phú và đa dạng, nhưng có 4 công cụ chính là Hợp đồng kỳ hạn (forwards), Hợp đồng tương lai (futures), Quyền chọn mua hoặc bán (option) và Hợp đồng hoán đổi (swaps). Ngày nay, khi thị trường chứng khoán (TTCK) càng phát triển thì việc nắm trong tay những công cụ tài chính phái sinh là một biện pháp khôn ngoan để đối phó với rủi ro. Tuy nhiên, đây cũng là một công cụ có tính "hai mặt" và có thể gây hậu quả nghiêm trọng nếu người sử dụng không có hiểu biết đầy đủ về nó, đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính và các đơn vị có lợi ích công chúng là các công ty niêm yết. CKPS có cơ chế vận hành và giao dịch phức tạp nên việc ghi nhận, xác định, trình bày và thuyết minh về CKPS luôn phải tôn trọng nguyên tắc giá thị trường.

Trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu rộng với quốc tế, việc tiếp cận và áp dụng các thông lệ quốc tế để phát triển nền kinh tế thị trường là cần thiết. Do các quy định kế toán CKPS là một loại công cụ tài chính rất phức tạp, nên việc nghiên cứu để ban hành các chuẩn mực kế toán (CMKT) về công cụ tài chính làm cơ sở hướng dẫn kế toán CKPS để đáp ứng nhu cầu sử dụng CKPS như một đòn bẩy kinh tế hoặc một công cụ quản trị và ngăn ngừa rủi ro phổ biến của nhà đầu tư là rất cần thiết. Hiện nay, có 3 CMKT quốc tế quy định về công cụ tài chính, đó là CMKT quốc tế (IAS) số 39 - Công cụ tài chính; Ghi nhận và xác định giá trị; IAS số 32 - Công cụ tài chính: Chuẩn mực quốc tế về lập và trình bày báo cáo tài chính (BCTC); (IFRS) số 7 - Công cụ tài chính: Thuyết minh thông tin. Các CMKT quốc tế về công cụ tài chính thường xuyên được bổ sung sửa đổi trong các năm qua.

Ở Việt Nam, nhiều công cụ tài chính còn khá xa lạ đối với công chúng đầu tư. Trong khi đó, trên thực tế đã phát sinh nhu cầu giao dịch kinh tế liên quan đến các công cụ tài chính mới đó, tuy nhiên vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể về cơ chế tài chính, CMKT, chế độ kế toán để làm cơ sở pháp lý cho doanh nghiệp thực hiện. Năm 2009, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 210/2009/TT-BTC (Thông tư 210) ngày 06/11/2009 về việc hướng dẫn áp dụng CMKT quốc tế về trình bày BCTC và thuyết minh thông tin đối với công cụ tài chính với 03 nội dung chủ yếu như sau: (i) Quy định các thuật ngữ liên quan đến công cụ tài chính; (ii) Hướng dẫn các nguyên tắc trong việc trình bày các công cụ tài chính trên BCTC; (iii) Hướng dẫn thuyết minh về công cụ tài chính để giúp cho người sử dụng BCTC đánh giá sử ảnh hưởng của công cụ tài chính đến tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp; Đánh giá bản chất, phạm vi của các rủi ro phát sinh từ công cụ tài chính và cách thức quản trị rủi ro của doanh nghiệp. Theo đó, công cụ tài chính được phân nhóm phù hợp với bản chất của các thông tin được trình bày và theo đặc điểm của các công cụ tài chính. Tuy nhiên, theo Thông tư 210 mới chỉ quy định về trình bày và thuyết minh BCTC về công cụ tài chính mà chưa quy định cụ thể 02 vấn đề quan trọng, đó là ghi nhận và xác định công cụ tài chính theo giá trị hợp lý cho phù hợp với từng loại công cụ tài chính theo IAS  số 39 nên việc thực hiện còn hạn chế. Trên thực tế, việc trình bày và thuyết minh BCTC về công cụ tài chính phái sinh tùy theo cách hiểu của từng doanh nghiệp do CKPS chưa có căn cứ để xem xét, đánh giá, đặc biệt là các vấn đề về xác định công cụ tài chính.

Hiện nay, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) đã hoàn thiện dự thảo Nghị định về CKPS và thị trường CKPS và dự kiến trình Chính phủ vào đầu năm 2014. Trong dự thảo có đề cập đến 02 loại CKPS là Hợp đồng tương lai và Hợp đồng quyền chọn. Trong phạm vi bài viết này, tác giả đề cập đến kế toán CKPS thông qua các nội dung cần hướng dẫn kế toán công cụ tài chính trên cơ sở CMKT quốc tế hiện hành về công cụ tài chính.

Thứ nhất, về định hướng nghiên cứu, ban hành các CMKT về công cụ tài chính:

Các CMKT quốc tế (IAS và IFRS) quy định rất chặt chẽ các nội dung liên quan đến việc xác định, ghi nhận, trình bày và thuyết minh về công cụ tài chính. Các nội dung này có mối liên hệ ràng buộc nhau trong tất cả các CMKT. Do vậy, khó có thể xác định được nội dung nào không áp dụng hoặc áp dụng có giới hạn, trong khi theo lộ trình phù hợp, Việt Nam nên thừa nhận và áp dụng toàn bộ các CMKT về công cụ tài chính, đặc biệt là về giao dịch CKPS cho mục đích phòng ngừa rủi ro và mục đích thương mại (theo phiên bản mới nhất của CMKT quốc tế). Để phù hợp với các cam kết quốc tế, CMKT của Việt Nam đòi hỏi phải tiếp cận sát thông lệ quốc tế để tạo ra sân chơi bình đẳng cho các nhà đầu tư và doanh nghiệp, đồng thời cung cấp thông tin trung thực, minh bạch cho người sử dụng BCTC.

Thứ hai, các nội dung chủ yếu cần quy định trong CMKT về công cụ tài chính bao gồm:

+ Mục đích của CMKT về công cụ tài chính là quy định và hướng dẫn nguyên tắc ghi nhận, xác định, trình bày và thuyết minh BCTC về công cụ tài chính.

+ Quy định các thuật ngữ và cho ví dụ minh họa các thuật ngữ để có cách hiểu thống nhất khi triển khai thực hiện CMKT về công cụ tài chính. Một số thuật ngữ đã quy định tại Thông tư 210 nhưng cần chỉnh sửa cho phù hợp với các IAS số 39, 32 và IFRS số 07 hiện hành như các thuật ngữ có liên quan đến việc sử dụng công cụ tài chính phái sinh cho mục đích phòng ngừa rủi ro.

Các loại công cụ tài chính được điều chỉnh bởi CMKT về công cụ tài chính bao gồm 02 loại công cụ tài chính cơ bản (như tiền phải thu và cho vay, cổ phiếu của đơn vị khác...) và công cụ tài chính phái sinh gồm (các loại Hợp đồng tương lai, Hợp đồng kỳ hạn, Hợp đồng quyền chọn, Hợp đồng hoán đổi, chứng quyền).

Thứ ba, quy định các nguyên tắc kế toán công cụ tài chính phái sinh.

Khi kế toán công cụ tài chính phái sinh, doanh nghiệp phải căn cứ vào mục đích sử dụng công cụ tài chính phái sinh để áp dụng phương pháp kế toán cho phù hợp. Cụ thể:

a) Trường hợp doanh nghiệp sử dụng công cụ tài chính phái sinh với mục đích thương mại, thì công cụ tài chính phái sinh được phân loại vào nhóm "Tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính được ghi nhận theo giá trị hợp lý". Doanh nghiệp phải ghi nhận ngay các khoản lãi, lỗ phát sinh từ việc thay đổi giá trị hợp lý của tài sản hoặc nợ phải trả phái sinh vào báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.

b) Trường hợp doanh nghiệp sử dụng công cụ tài chính phái sinh với mục đích phòng ngừa rủi ro thì thực hiện theo quy định vè kế toán phòng ngừa rủi ro.

c) Khi kế toán công cụ tài chính phái sinh, doanh nghiệp phải xác định và ghi nhận riêng rẽ các khoản phải thu, phải trả liên quan đến công cụ tài chính phái sinh và các khoản thanh toán liên quan đến hợp đồng gốc. Các khoản phải thu, phải trả phát sinh từ việc thanh toán hợp đồng gốc không được tính và giá trị hợp lý của tài sản hoặc nợ phải trả phái sinh.

d) Việc phân loại công cụ tài chính phái sinh sử dụng cho mục đích kinh doanh hoặc mục đích phòng ngừa rủi ro được thực hiện tại thời điểm hợp đồng có hiệu lực và doanh nghiệp không được phân loại lại công cụ tài chính phái sinh trong suốt thời gian công cụ tài chính phái sinh có hiệu lực, trừ khi phải dừng áp dụng kế toán phòng ngừa rủi ro theo quy định.

Ví dụ về sử dụng công cụ tài chính phái sinh cho mục đích phòng ngừa rủi ro: Một doanh nghiệp của Anh quốc cần huy dộng vốn trị giá 100 triệu bảng Anh trong vòng 5 năm cho các hoạt động của mình. Doanh nghiệp phát hành một kỳ phiếu lãi suất thả nổi kỳ hạn 5 năm không được mua lại trước hạn trị giá 100 triệu Bảng Anh. Theo quy định của chính sách quản lý rủi ro của doanh nghiệp, ngay sau khi phát hành các trái phiếu, doanh nghiệp ký hợp đồng hoán đổi lãi suất (IRS - Interest Rate Swap) thời hạn 5 năm với giá trị danh nghĩa là 100 triệu Bảng Anh. IRS trả lãi suất cố định là 6% và nhận lãi suất thả nổi dựa trên LIBOR (Lãi suất liên ngân hàng London). Trong tình huống này, doanh nghiệp đã sử dụng IRS như một nghiệp vụ phòng ngừa rủi ro lãi suất cho dòng tiền phái sinh từ các khoản thanh toán tiền lãi trong tương lai của khoản vay khi lãi suất LIBOR thay đổi. Hiệu quả của nghiệp vụ phòng ngừa rủi ro này có thể kiểm chứng được trên cơ sở bù trừ các dòng tiền liên quan đến IRS và các dòng tiền phát sinh từ chi phí tiền lãi của trái phiếu.

Còn nữa....

(Theo Chứng khoán Việt Nam - số 182)

Trích nguồn:
Số lượt đọc: 5008

Đánh giá bài viết
Kết quả