CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP

CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG

HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP

 

TS. Trần Khánh Lâm

Trưởng VP VACPA tại Tp. Hồ Chí Minh

 

Chất lượng là một phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật để phân biệt nó với các sự vật khác. Chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật. Chất lượng biểu hiện ra bên ngoài qua các thuộc tính. Nó là cái liên kết các thuộc tính của sự vật lại làm một, gắn bó với sự vật như một tổng thể, bao quát toàn bộ sự vật và không tách khỏi sự vật. Sự vật trong khi vẫn còn là bản thân nó thì không thể mất chất lượng của nó. Sự thay đổi chất lượng kéo theo sự thay đổi của sự vật về căn bản. Chất lượng của sự vật bao giờ cũng gắn liền với tính quy định về số lượng của nó và không thể tồn tại ngoài tính quy định ấy. Mỗi sự vật bao giờ cũng là sự thống nhất của chất lượng và số lượng.

Khác với các sản phẩm của nghề nghiệp khác, chất lượng sản phẩm kiểm toán (CLKT) không dễ dàng quan sát hay kiểm tra. Nhưng người sử dụng dịch vụ lại cần biết nhân tố nào tạo nên CLKT để họ có thể lựa chọn và tin tưởng vào sản phẩm dịch vụ mà họ đang sử dụng. Ngược lại, đối với người cung cấp dịch vụ kiểm toán (công ty kiểm toán và KTV) cũng rất cần biết yêu cầu CLKT của xã hội để họ có thể cung cấp dịch vụ phù hợp và cố gắng thu hẹp dần khoảng cách giữa mong đợi của công chúng với khả năng thực hiện của KTV. Bên cạnh đó, làm thế nào để đo lường mức độ thỏa mãn của người sử dụng cũng là một vấn đề phức tạp vì nó không thể định lượng như sản phẩm của các ngành nghề khác.

Do vậy, nhiều chuyên gia trong lĩnh vực kiểm toán đã thực hiện công trình nghiên cứu về vấn đề này. Theo một số công trình nghiên cứu, CLKT được định nghĩa là mức đôÌ£ công ty kiểm toán tuân thủ theo các CMKiT trong suốt quá trình thực hiện kiểm toán. Tiêu biểu cho quan điểm này là Krishnan và Schauer (2001), McConnell và Banks (1998), Aldhizer và các cộng sự (1995). Một số nhaÌ€ nghiên cứu khác lại cho rằng CLKT được xem xét trên các khía cạnh: (1) khả năng mà KTV sẽ (a) phát hiêÌ£n ra khiếm khuyết của hêÌ£ thống kế toán của khách haÌ€ng vaÌ€ (b) báo cáo các khiếm khuyết naÌ€y (DeAngelo, 1981; Watts và Zimmerman, 1983); (2) khả năng KTV không phát haÌ€nh báo cáo chấp nhâÌ£n toaÌ€n phâÌ€n cho các BCTC có chứa đưÌ£ng những sai sót troÌ£ng yếu (Lee và các cộng sự, 1998); (3) sự trung thực của thông tin tài chính được trình bày trên BCTC sau khi kiểm toán (Beatty, 1989; Krinsky và Rotenberg, 1989; Davidson và Neu, 1993); vaÌ€ (4) khả năng KTV có thể laÌ€m giảm các sai sót vaÌ€ nâng cao độ trung thực của dữ liêÌ£u kế toán (Wallace, 1987).

       Để đạt được chất lượng, sản phẩm của kiểm toán trước hết phải thỏa mãn các đối tượng sử dụng. Tuy nhiên, đối tượng sử dụng sản phẩm kiểm toán khá rộng. Khởi nguôÌ€n cơ bản và sâu xa của sự ra đời nghề nghiệp kiểm toán laÌ€ sưÌ£ xung đôÌ£t quyêÌ€n lơÌ£i giữa ngươÌ€i cung cấp vaÌ€ ngươÌ€i sử duÌ£ng thông tin taÌ€i chính. Trong giai đoạn phôi thai, kiểm toán ra đời nhằm bảo vệ quyền lợi của người chủ sở hữu và phát hiện gian lận và sai sót của người quản lý, đối tượng sử dụng kết quả kiểm toán chính là chủ sở hữu. Trong giai đoạn phát triển và giai đoạn hiện đại, người sử dụng kết quả kiểm toán không chỉ là nhà đầu tư, mà còn là nhà quản lý, các bên thứ ba có liên quan. Dù đối tượng kiểm toán khá rộng, tuy nhiên có thể chia thành hai nhóm chính: (i) nhóm người quản lý và (ii) nhóm cổ đông và bên thứ ba. Đối với các công ty không phải là công ty đại chúng, nhóm người sử dụng chủ yếu kết quả kiểm toán là các cổ đông và người quản lý. Đối với các công ty cổ phần, đặc biệt là đại chúng, nhóm người sử dụng chủ yếu là ngoài cổ đông, người quản lý còn có bên thứ ba có liên quan trong xã hội. Do BCTC của các công ty đại chúng (đặc biệt là công ty niêm yết) có ảnh hưởng đến nhóm người rộng rãi trong xã hội nên phần lớn các quốc gia trên thế giới đều yêu cầu các công ty đại chúng đều cần kiểm toán, trong khi các công ty còn lại có thể là tự nguyện. Nói cách khác, nhóm đối tượng quan trọng mà kiểm toán hướng đến chính là xã hội, công chúng. Chính vì vậy, khi nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến CLKT, các nhà nghiên cứu phân tích và xem xét chủ yếu dưới góc nhìn của công chúng, xã hội.

Đánh giá CLKT laÌ€ điêÌ€u câÌ€n thiết đối với công chúng. Tuy nhiên, viêÌ£c đánh giá toàn diện chất lượng rất tốn kém viÌ€ đối với công chúng thì sản phẩm kiểm toán không dễ gì quan sát đươÌ£c. Bên cạnh đó, người sử dụng cũng khó có thể kiểm tra đươÌ£c các hơÌ£p đôÌ€ng giữa khách haÌ€ng với công ty kiểm toán cũng như các khoản lơÌ£i ích vâÌ£t chất khác mà công ty kiểm toán nhận được. Do vậy, người ta thường đánh giá CLKT bằng cách dưÌ£a vaÌ€o môÌ£t số biến số (chỉ tiêu) có liên quan (mặc dù không hoaÌ€n hảo) đến CLKT.

Dưới đây là những tóm lược các công triÌ€nh nghiên cứu khác nhau về các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập.

1-   Quy mô công ty kiểm toán

Quy mô công ty kiểm toán laÌ€ môÌ£t trong những chỉ tiêu thươÌ€ng đươÌ£c sử duÌ£ng như là chỉ tiêu tiêu biểu nhất cho CLKT.

VaÌ€o cuối thâÌ£p niên 1970, có rất nhiêÌ€u người chỉ trích quan điểm cho rằng các công ty kiểm toán lớn thì luôn có chất lượng tốt hơn công ty kiểm toán nhỏ. Họ cho rằng CLKT của các công ty nhỏ và công ty lớn đều như nhau. Để giải quyết vấn đề này, DeAngelo (1981) đã tiến hành các phân tích vêÌ€ sưÌ£ ảnh hưởng của quy mô kiểm toán đến CLKT vaÌ€ kết luâÌ£n răÌ€ng các công ty kiểm toán quy mô lớn thường có chất lượng được đánh giá (bởi thiÌ£ trươÌ€ng) cao hơn các công ty kiểm toán quy mô nhỏ.

Theo DeAngelo, để tồn tại và phát triển, công ty kiểm toán phải nâng cao CLKT. Tuy nhiên, khi phát triển, cân nhắc đến “biên độ tăng thêm” (quasi-rents, đó là áp lực kinh tế khiến cho công ty kiểm toán cân nhắc đến việc cân bằng CLKT). Cụ thể, công ty kiểm toán phải xem xét đến việc: (i) có được một đơn vị “biên đôÌ£ tăng thêm” tưÌ€ môÌ£t khách haÌ€ng cuÌ£ thể (do công ty kiểm toán cố tiÌ€nh giảm CLKT để duy triÌ€ khách haÌ€ng); vaÌ€ (ii) doÌ€ng các đơn vị “biên đôÌ£ tăng thêm” tưÌ€ nhiều khách haÌ€ng khác có thể biÌ£ mất khi những haÌ€nh vi cố tình làm giảm CLKT của công ty kiểm toán bị công chúng phát hiện. Nói cách khác, công ty kiểm toán naÌ€o có caÌ€ng nhiêÌ€u khách haÌ€ng (số lượng khách hàng là một trong những chỉ tiêu đánh giá quy mô của công ty kiểm toán) thiÌ€ caÌ€ng có khả năng biÌ£ mất càng nhiêÌ€u “biên độ tăng thêm” trong trươÌ€ng hơÌ£p những sai phaÌ£m của KTV biÌ£ phát hiện. Như vâÌ£y, quy mô (số lượng khách hàng) của công ty kiểm toán càng lớn thì họ càng bị áp lực kinh tế buộc phải duy trì và nâng cao CLKT.

Ngoài ra, Dye (1993) đã phân tích sưÌ£ tác đôÌ£ng lẫn nhau giữa CMKiT, các quy điÌ£nh liên quan trách nhiêÌ£m pháp lý vaÌ€ nguồn lực tài chính của công ty kiểm toán đối với phản ứng vaÌ€ thái đôÌ£ của công ty kiểm toán trước sưÌ£ thay đổi của CMKiT vaÌ€ quy điÌ£nh liên quan trách nhiêÌ£m pháp lý. CLKT có mối quan hêÌ£ với nguồn tài chính của công ty kiểm toán. Quy mô công ty kiểm toán caÌ€ng lớn với nhiêÌ€u nguôÌ€n lưÌ£c (deep-pocket) thiÌ€ có thể thanh toán đươÌ£c tiêÌ€n phaÌ£t trong trươÌ€ng hơÌ£p có kiêÌ£n tuÌ£ng, điêÌ€u naÌ€y cũng laÌ€m tăng điều kiện duy triÌ€ chất lượng diÌ£ch vuÌ£ ở mức cao vaÌ€ do vâÌ£y cũng sẽ làm giảm tối thiểu khả năng xảy ra các viêÌ£c kiêÌ£n tuÌ£ng. MôÌ£t số nhà nghiên cứu khác cũng đồng ý với quan điểm này như Lennox (1999), Shu (2000).

Xét trên hai khía cạnh liên quan đến uy tín và trách nhiêÌ£m pháp lý của công ty kiểm toán có thể thấy răÌ€ng công ty kiểm toán quy mô caÌ€ng lớn thiÌ€ có khuynh hướng cung cấp chất lươÌ£ng diÌ£ch vuÌ£ càng cao hơn. Quan điểm naÌ€y được Burton (1986), Wilson và Grimlund (1990), Davis và Simon (1992) chứng minh bằng thực nghiệm răÌ€ng giá phí kiểm toán của các công ty kiểm toán có những sai phaÌ£m thươÌ€ng có mức thấp hơn các công ty khác. Những điêÌ€u naÌ€y cho thấy sưÌ£ mất đi của “biên đôÌ£ tăng thêm” laÌ€ rất lớn khi maÌ€ công ty kiểm toán haÌ£ thấp CLKT của diÌ£ch vuÌ£ cung cấp. VaÌ€ nếu số lươÌ£ng khách haÌ€ng (một biến số để đánh giá quy mô của công ty kiểm toán) của công ty kiểm toán khá lớn thiÌ€ sưÌ£ gia tăng mất mát caÌ€ng nhiều vaÌ€ điêÌ€u naÌ€y sẽ khiến công ty kiểm toán phải duy triÌ€ CLKT ở mức cao hơn.

2-   Mức độ chuyên sâu tưÌ€ng lĩnh vưÌ£c kiểm toán (chuyên ngành)

Mức độ chuyên ngaÌ€nh laÌ€ môÌ£t chỉ số của CLKT, bởi viÌ€ các KTV am hiểu sâu lĩnh vực chuyên ngành sẽ có khả năng đánh giá đươÌ£c tính hơÌ£p lý trong ước tính kế toán vaÌ€ việc triÌ€nh baÌ€y, công bố thông tin taÌ€i chính và do vậy, sẽ laÌ€m tăng áp lực lên khách haÌ€ng phải tuân thủ nguyên tắc kế toán (Kwon, 1996). NgoaÌ€i ra, theo Simunic và Stein (1987) để chuyên môn hóa trong môÌ£t lĩnh vưÌ£c ngaÌ€nh nghêÌ€ cuÌ£ thể thì các công ty kiểm toán thươÌ€ng đâÌ€u tư vaÌ€o công nghêÌ£, kỹ thuâÌ£t, phương tiêÌ£n vâÌ£t chất, nhân sưÌ£ vaÌ€ hêÌ£ thống kiểm soát chất lượng để nâng cao chất lượng diÌ£ch vuÌ£ của ngaÌ€nh mà miÌ€nh chuyên sâu. Maletta và Wright (1996) cho rằng trong tưÌ€ng ngaÌ€nh sản xuất, kinh doanh hay dịch vụ khác nhau luôn có những vấn đêÌ€ rủi ro kiểm toán đặc trưng ẩn chứa trong nó.

Các nghiên cứu của Dopuch và Simunic (1980, 1982) vêÌ€ mức độ chuyên sâu trong lĩnh vực chuyên môn đêÌ€u sử duÌ£ng tỷ số giữa tổng giá phí kiểm toán của các dịch vụ chuyên sâu maÌ€ công ty kiểm toán thưÌ£c hiêÌ£n trong lĩnh vưÌ£c naÌ€y so với tổng phí kiểm toán của tất cả các công kiểm toán trong cuÌ€ng môÌ£t lĩnh vưÌ£c như laÌ€ môÌ£t thang đo về CLKT theo từng lĩnh vực. CuÌ€ng với quan điểm trên, môÌ£t số nghiên cứu khác cũng cho thấy mối quan hêÌ£ chặt chẽ giữa tính chuyên môn hóa với thuôÌ£c tính chất lượng. Ví duÌ£ như, Crasswell và các cộng sự (1995) đã phân tích dữ liêÌ£u của Úc vào năm 1987 cho thấy, các công ty kiểm toán chuyên ngành chiếm khoảng 34% phí kiểm toán trong toàn ngành.

Deis và Giroux (1992) cũng đã tiến hành chọn mẫu để kiểm tra thị phần của các Non-Big 6 (các công ty kiểm toán không thuộc nhóm Big 6 lúc bấy giờ và cả Big 4 hiện nay). Kết quả cho thấy rằng thiÌ£ phâÌ€n của các công ty kiểm toán chuyên ngành tỷ lêÌ£ thuâÌ£n với việc kiểm soát chất lượng. BăÌ€ng chứng naÌ€y chứng minh cho giả thuyết tính chuyên môn hóa tỷ lêÌ£ thuận với CLKT. Balsam và các cộng sự (2003) vaÌ€ Krishman (2003) cũng tiến hành điều tra tương tự và rút ra kết luận rằng khách haÌ€ng của những công ty kiểm toán chuyên ngaÌ€nh thươÌ€ng có ít các khoản trích trước kế toán tùy tiện hơn so với những khách hàng sử dụng công ty kiểm toán không chuyên ngaÌ€nh.

Do vậy, từ những nghiên cứu trên cho thấy, chỉ tiêu tính chuyên ngaÌ€nh có thể đươÌ£c xem laÌ€ yếu tố tác động và là thang đo cho CLKT.

3-   NhiêÌ£m kyÌ€ của KTV

Với các vụ gian lận lớn và phá sản gần đây của các doanh nghiệp trong đó có lỗi của công ty kiểm toán, thì vấn đề mối quan hêÌ£ giữa khách haÌ€ng vaÌ€ công ty kiểm toán ngày càng đươÌ£c nghiên cứu nhiều hơn. Mọi người bắt đầu quan tâm đến áp lưÌ£c duy triÌ€ khách haÌ€ng kiểm toán vaÌ€ “mức đôÌ£ thân thiêÌ£n” giữa KTV với ban lãnh đaÌ£o doanh nghiêÌ£p (trong trươÌ€ng hơÌ£p KTV thưÌ£c hiêÌ£n kiểm toán nhiêÌ€u năm liêÌ€n) sẽ taÌ£o ảnh hưởng ngươÌ£c đến CLKT. Từ đó đã bắt đầu xuất hiện các quy định bắt buôÌ£c luân phiên thay đổi công ty kiểm toán như laÌ€ môÌ£t biêÌ£n pháp để nâng cao CLKT. Quy điÌ£nh này nhằm giới haÌ£n nhiêÌ£m kyÌ€ KTV viÌ€ mối quan hêÌ£ giữa KTV vaÌ€ khách haÌ€ng càng mật thiết thì sẽ laÌ€m ảnh hưởng xấu đến CLKT (do sưÌ£ kiêÌ£n Enron/Arthur Andersen, nhiêÌ€u kiến nghiÌ£ liên quan đến giới haÌ£n nhiêÌ£m kyÌ€ KTV vaÌ€ thưÌ£c hiêÌ£n viêÌ£c luân phiên thay đổi KTV để bảo vêÌ£ nhaÌ€ đâÌ€u tư). Ví duÌ£ như trong Đạo luật SOX 2002, KTV sẽ không đươÌ£c xem laÌ€ đôÌ£c lâÌ£p nếu hoÌ£ thưÌ£c hiêÌ£n kiểm toán cho cuÌ€ng môÌ£t khách haÌ€ng trong bốn năm.

Theo Mautz và Sharaf (1961), nhiêÌ£m kyÌ€ KTV caÌ€ng daÌ€i thiÌ€ CLKT càng giảm bởi lẽ nó laÌ€m gia tăng sưÌ£ phuÌ£ thuôÌ£c của KTV vaÌ€o Ban giám đốc của khách hàng. Sự thân mật của KTV đối với khách haÌ€ng sẽ làm KTV không duy trì thái đôÌ£ hoaÌ€i nghi nghêÌ€ nghiêÌ£p đúng mức vaÌ€ do vậy làm giảm tính khách quan của KTV. Ngoài ra, cũng theo Arel và các cộng sự (2005), KTV có thể cảm thấy nhaÌ€m chán vaÌ€ xem viêÌ£c kiểm toán như laÌ€ môÌ£t sưÌ£ bắt chước đơn giản của các hơÌ£p đôÌ€ng kiểm toán trước nên KTV sẽ ít chú tâm đến cuôÌ£c kiểm toán. Shockley (1981), trươÌ€ng hơÌ£p công ty kiểm toán có môÌ£t “sưÌ£ tin tưởng” khách haÌ€ng do có mối quan hêÌ£ lâu daÌ€i vaÌ€ “sưÌ£ tin tưởng” naÌ€y có thể khiến cho KTV sử duÌ£ng các thủ tuÌ£c kiểm toán kém hữu hiệu vaÌ€ không sáng taÌ£o. CuÌ€ng với thơÌ€i gian, KTV chỉ tập trung vào việc duy triÌ€, thu được lơÌ£i nhuận tưÌ€ khách haÌ€ng vaÌ€ ít quan tâm đến sưÌ£ kiêÌ£n tuÌ£ng có thể xảy ra. Do vâÌ£y, KTV có thể trở nên kém khách quan vaÌ€ kém nổ lưÌ£c trong viêÌ£c phát hiêÌ£n các sai sót troÌ£ng yếu vaÌ€ có khuynh hướng đôÌ€ng ý với Ban giám đốc của khách hàng vêÌ€ các quyết điÌ£nh quan troÌ£ng. NhiêÌ£m kyÌ€ KTV càng daÌ€i thì tính đôÌ£c lâÌ£p của KTV sẽ càng giảm vaÌ€ thậm chí có thể dẫn đến viêÌ£c KTV hỗ trơÌ£ khách haÌ€ng tích cưÌ£c hơn trong viêÌ£c áp duÌ£ng các lưÌ£a choÌ£n kế toán maÌ€ những chính sách kế toán này không phù hợp CMKT. Điều này có thể đưa đến kết quả laÌ€ không phát hiêÌ£n các gian lâÌ£n hoăÌ£c sai sót troÌ£ng yếu.

Do vậy, viêÌ£c quy điÌ£nh bắt buôÌ£c vêÌ€ giới haÌ£n nhiêÌ£m kyÌ€ KTV đươÌ£c xem laÌ€ biêÌ£n pháp cải thiêÌ£n CLKT băÌ€ng cách giảm sưÌ£ ảnh hưởng của khách haÌ€ng lên KTV.

4-   Giá phí kiểm toán

Một số nhà nghiên cứu cho răÌ€ng viêÌ£c haÌ£ thấp chi phí (đặc biệt giá phí của cuôÌ£c kiểm toán năm đâÌ€u tiên thấp hơn dưới mức chi phí bỏ ra) sẽ ảnh hưởng đến CLKT. HaÌ£ thấp chi phí (lowballing) có thể dẫn đến quỹ thơÌ€i gian vaÌ€ chi phí dưÌ£ truÌ€ cho cuộc kiểm toán bị hạ thấp và điều này tạo nên áp lực và khó khăn cho KTV trong viêÌ£c phát hiện các sai phạm trọng yếu do sợ bị mất khách haÌ€ng. DeAngelo (1981) đã thiết lâÌ£p mô hiÌ€nh phí kiểm toán năm đâÌ€u tiên (chi phí khởi đôÌ£ng kiểm toán - start-up cost) với chi phí phát sinh liên quan đến viêÌ£c thay đổi công ty kiểm toán của doanh nghiêÌ£p đươÌ£c kiểm toán.

Mô hình này cho thấy môÌ£t công ty kiểm toán đương nhiêÌ£m có thể định ra giá phí kiểm toán dưới mức chi phí thưÌ£c tế bỏ ra trong năm đâÌ€u tiên vaÌ€ sẽ thu đươÌ£c lơÌ£i nhuâÌ£n tăng thêm trong tương lai do thưÌ£c hiêÌ£n hơÌ£p đôÌ€ng kiểm toán naÌ€y. NgoaÌ€i ra, nhu câÌ€u có đươÌ£c sưÌ£ giảm giá cho năm đâÌ€u tiên để có đươÌ£c lơÌ£i nhuâÌ£n tăng thêm trong tương lai taÌ£o ra mối quan hêÌ£ kinh tế chăÌ£t chẽ với khách haÌ€ng. Từ các mối quan hệ đó, DeAngelo đã đưa ra mối liên hêÌ£ giữa chi phí kiểm toán vaÌ€ mối quan hêÌ£ kinh tế với khách hàng. Mối quan hêÌ£ kinh tế naÌ€y có thể laÌ€m giảm tính đôÌ£c lâÌ£p của KTV vaÌ€ khi giảm tính độc lập sẽ làm suy giảm CLKT.

Các nghiên cứu của Francis và Simon (1987), Simon và Francis (1988) và Crasswell và Francis (1999) cũng đã cung cấp thêm băÌ€ng chứng là các công ty kiểm toán thường giảm giá phí kiểm toán cho năm đâÌ€u tiên.

Do vậy, phí kiểm toán sẽ tác động đến CLKT là ý kiến được nhiều nhà kinh tế ủng hộ (việc giảm phí kiểm toán thường đưa đến giảm CLKT).

5-   PhaÌ£m vi của diÌ£ch vuÌ£ phi kiểm toán cung cấp

Vào năm 1961, có nhiều lo ngaÌ£i đối với công ty kiểm toán có cung cấp diÌ£ch vuÌ£ phi kiểm toán đồng thời với dịch vụ kiểm toán đã đươÌ£c đêÌ€ câÌ£p trong nghiên cứu của Mautz và Sharaf. Các tác giả này đã chỉ ra răÌ€ng diÌ£ch vuÌ£ tư vấn quản lý vaÌ€ tư vấn thuế của công ty kiểm toán cung cấp sẽ ảnh hưởng đến tính đôÌ£c lâÌ£p của công ty kiểm toán. Goldman và Barlev (1974) cũng cho răÌ€ng, viêÌ£c cung cấp diÌ£ch vuÌ£ phi kiểm toán môÌ£t cách chuyên nghiêÌ£p laÌ€m gia tăng tổng giá triÌ£ của cả gói diÌ£ch vuÌ£ mà công ty kiểm toán cung cấp cho đối tươÌ£ng đươÌ£c kiểm toán. Tuy nhiên, giá triÌ£ gia tăng naÌ€y laÌ£i laÌ€m giảm sưÌ£ cân băÌ€ng đối trọng trong mối quan hêÌ£ giữa khách haÌ€ng vaÌ€ công ty kiểm toán. ViÌ€ vâÌ£y, công ty kiểm toán có cung cấp diÌ£ch vuÌ£ phi kiểm toán sẽ bị mất cân băÌ€ng trong mối quan hệ giữa khách hàng và công ty kiểm toán. Theo Simunic (1984), mối quan hêÌ£ kinh tế giữa công ty kiểm toán vaÌ€ khách haÌ€ng có thể gia tăng do sưÌ£ kết hơÌ£p cung cấp diÌ£ch vuÌ£ phi kiểm toán với dịch vụ kiểm toán. VaÌ€ điêÌ€u naÌ€y khiến cho công ty kiểm toán nhượng bộ khách hàng khi có sự bất đôÌ€ng ý kiến giữa công ty kiểm toán và khách haÌ€ng để nhăÌ€m giữ được khách haÌ€ng. DeAngelo (1981) cũng cho răÌ€ng công ty kiểm toán caÌ€ng sơÌ£ mất khách haÌ€ng thiÌ€ khả năng phát hiêÌ£n các sai phạm trọng yếu trên BCTC càng giảm.

Simunic (1984), Beck và các cộng sự (1988) đã phân tích răÌ€ng sưÌ£ cung cấp diÌ£ch vuÌ£ phi kiểm toán có thể gia tăng mối quan hêÌ£ kinh tế giữa KTV vaÌ€ khách hàng. Nếu mối quan hêÌ£ naÌ€y càng chặt chẽ thì tính khách quan của công ty kiểm toán biÌ£ tổn haÌ£i. Công ty kiểm toán có thể thu được lơÌ£i ích nhiêÌ€u hơn để buÌ€ đắp mức đôÌ£ rủi ro cao hơn so với trươÌ€ng hơÌ£p hoÌ£ không có cơ hôÌ£i cung cấp diÌ£ch vuÌ£ phi kiểm toán vaÌ€ như vậy có thể đối măÌ£t với nguy cơ laÌ€m tổn haÌ£i tính khách quan.

Xét vêÌ€ măÌ£t lý thuyết, công ty kiểm toán phải đôÌ£c lâÌ£p cả vêÌ€ hiÌ€nh thức lẫn tư tưởng. Do diÌ£ch vuÌ£ phi kiểm toán laÌ€m giảm tính đôÌ£c lâÌ£p nên nó sẽ laÌ€m giảm CLKT vaÌ€ chất lượng của BCTC. NgoaÌ€i ra, diÌ£ch vuÌ£ phi kiểm toán laÌ€m tăng thêm rủi ro do viêÌ£c laÌ€m giảm tính đôÌ£c lâÌ£p về hình thức. Trong cuôÌ£c điêÌ€u tra 1.500 KTV trước khi vaÌ€ sau khi có sự kiện Enron, Lindberg và Beck (2002) nhận thấy răÌ€ng phần lớn KTV đều cho rằng diÌ£ch vuÌ£ phi kiểm toán sẽ laÌ€m tổn haÌ£i tính đôÌ£c lâÌ£p của KTV.

Như vậy, tương tự như nhiệm kỳ của KTV thì phạm vi của dịch vụ phi kiểm toán được cung cấp là một đại diện tỷ lệ nghịch của CLKT./.

Trích nguồn:
Số lượt đọc: 3411

Đánh giá bài viết
Kết quả