Kiểm toán độc lập 25 năm một chặng đường


Ngày 13 tháng 5 năm 1991, Bộ trưởng Bộ Tài chính ký quyết định thành lập hai Công ty kiểm toán đầu tiên trực thuộc Bộ, đánh dấu sự hình thành ngành Kiểm toán độc lập (KTĐL) ở Việt Nam. Thực ra, hoạt động KTĐL đã xuất hiện ở Việt Nam khi các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động tại Việt Nam theo Luật Đầu tư nước ngoài đầu tiên do Quốc hội ban hành vào tháng 12/1987. Chính phủ Việt Nam và trực tiếp là Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định lịch sử mang tính đột phá, đó là cho phép thành lập văn phòng đại diện của Công ty Ernst & Young Việt Nam vào giữa năm 1989 và mấy năm sau đó cho phép các Doanh nghiệp kiểm toán 100% vốn nước ngoài hoạt động tại Việt Nam (công ty Ernst & Young Việt Nam, công ty KPMG, công ty Pricewater- House Coopers Việt Nam...), nhằm thúc đẩy nhanh công cuộc cải cách kế toán và kiểm toán ở Việt Nam, đáp ứng yêu cầu mở cửa, thu hút vốn Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam - như lời cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã nói.

                PGS. TS. Trần Văn Tá
   Nguyên Thứ trưởng Bộ Tài chính
            Chủ tịch danh dự VACPA

 

Sau 25 năm hoạt động, ngành KTĐL Việt Nam đã trưởng thành nhanh chóng, có những bước phát triển vượt bậc, đã xác lập và khẳng định được uy tín, vị thế của KTĐL, góp phần công khai, minh bạch thông tin kinh tế - tài chính của DN và tổ chức, phục vụ lợi ích doanh nghiệp, các nhà đầu tư, chủ sở hữu vốn, các đối tác, đáp ứng có hiệu quả vai trò công cụ quản lý kinh tế trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.

Có thể thấy sự phát triển vượt bậc, nhanh chóng của ngành KTĐL qua 1/4 thế kỷ, được thể hiện thông qua một số đặc trưng chủ yếu như sau:

Một là, khuôn khổ thể chế cho hoạt động KTĐL ngày càng hoàn thiện.

5 năm gần đây là thời kỳ tập trung hoàn thiện khuôn khổ thể chế cho ngành KTĐL. Lần đầu tiên, Luật KTĐL, văn bản có giá trị pháp lý cao nhất từ trước đến nay được Quốc hội thông qua. Tiếp theo, các Nghị định của Chính phủ, các Thông tư hướng dẫn thi hành Luật KTĐL đã lần lượt được ban hành. Cũng trong thời gian này, Hệ thống 47 Chuẩn mực nghề nghiệp Việt Nam bao gồm chuẩn mực kiểm toán, các chuẩn mực về dịch vụ đảm bảo khác và chuẩn mực về các dịch vụ liên quan tiếp cận đến 95 - 97% so với Chuẩn mực quốc tế được ban hành dưới hình thức văn bản quy phạm pháp luật.

Như vậy, có thể nói khuôn khổ thể chế cho hoạt động KTĐL gồm có Luật, các Văn bản thi hành Luật và hệ thống chuẩn mực nghề nghiệp cho hoạt động KTĐL chưa bao giờ được xây dựng đầy đủ, đồng bộ và toàn diện như hiện nay. Hệ thống pháp luật đối với KTĐL quy định rõ quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có liên quan trong hoạt động KTĐL, nâng cao hiệu lực pháp lý và hiệu quả quản lý nhà nước đối với KTĐL; đồng thời đáp ứng yêu cầu hội nhập, từng bước tiếp cận và thừa nhận những tiêu chuẩn và thông lệ quốc tế trong lĩnh vực KTĐL.

Hai là, KTĐL trở thành một nghề cung cấp dịch vụ chất lượng cao, được xã hội thừa nhận.

KTĐL là một loại hình dịch vụ do Công ty kiểm toán cung cấp, dịch vụ này được thực hiện theo hợp đồng kiểm toán và thực hiện theo nguyên tắc thị trường. Khi dịch vụ kiểm toán do các Công ty kiểm toán cung cấp thì KTĐL trở thành một loại hình nghề nghiệp mang tính chất độc lập. Đặc trưng chủ yếu của nghề nghiệp này là người hành nghề phải có chứng chỉ KTV, phải trải qua kỳ thi mang tính quốc gia; Công ty kiểm toán phải có đủ điều kiện theo quy định mới được tổ chức hành nghề. Đến nay, nghề KTĐL đã khẳng định được vị thế như một nghề có uy tín, có chất lượng cao trong thị trường lao động và trong xã hội; đã có thời kỳ người ta tìm kiếm, săn lùng KTV như là của hiếm. Giới trẻ Việt Nam ngày nay rất được coi trọng và tự hào khi có trong tay chứng chỉ KTV (CPAVN) và hơn thế nữa là chứng chỉ kế toán, kiểm toán quốc tế như CPA Mỹ, ACCA, CPA Australia...

Ba là, ngành KTĐL đã phát triển rất nhanh chóng trên tất cả các mặt về số lượng, quy mô các công ty kiểm toán, số lượng KTV, các loại hình dịch vụ, số lượng khách hàng và doanh thu kiểm toán.

Đến nay, toàn ngành có 140 - 150 Công ty thường xuyên hoạt động, quy mô hoạt động của các Công ty cũng không ngừng lớn mạnh; số lượng KTV làm việc trong các Công ty kiểm toán đã lên đến hơn 2000 người, trong đó nhiều người có chứng chỉ kế toán, kiểm toán quốc tế. Các công ty đã không ngừng đa dạng hóa các dịch vụ theo hướng mở rộng dịch vụ kiểm toán và các dịch vụ đảm bảo, phát triển các dịch vụ tư vấn; đến nay các Công ty đã cung cấp hơn 30 loại dịch vụ khác nhau, trong đó nòng cốt là dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính.

Doanh thu ngành KTĐL tăng lên đáng kể qua các năm. Trong thời kỳ kinh tế tăng trưởng ổn định, cứ sau 5 năm doanh thu ngành KTĐL tăng gấp đôi; đến 2015 tổng doanh thu đạt 5.130 tỷ đồng, tăng gấp 17 lần so với năm 2000.

Bốn là, đội ngũ KTV lớn mạnh nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng.

Ngành KTĐL phát triển đã tạo công ăn việc làm cho trên 10.000 người làm việc trong các công ty kiểm toán, trong đó 1647 người là KTV có đủ điều kiện đăng ký hành nghề tính đến ngày 10/6/2016. Đến nay Bộ Tài chính đã tổ chức 27 kỳ thi KTV và đã cấp 3837 chứng chỉ KTV, những năm gần đây, số người có chứng chỉ KTV tăng thêm bình quân mỗi năm 300 người; hiện có khoảng hơn 1600 người có chứng chỉ KTV nước ngoài. Chất lượng đội ngũ KTV ngày càng được nâng cao thông qua các chương trình đào tạo cập nhật kiến thức, đào tạo theo chuyên đề chuyên sâu, tập huấn kỹ năng nghề nghiệp, chương trình quốc tế hóa nhân viên ... được áp dụng ở nhiều Công ty kiểm toán. Một số KTV trẻ, nhất là ở những Công ty kiểm toán lớn đã đạt được thành tích cao xếp hạng toàn cầu trong các kỳ thi của các Hội nghề nghiệp Quốc tế có danh tiếng như ACCA, CPA Australia ... một số lãnh đạo công ty được vinh danh là Nhà quản trị trẻ tài năng ở tầm khu vực và châu lục. Ngành KTĐL, đặc biệt là các Công ty kiểm toán lớn đã đào tạo và cung cấp nhiều cán bộ có trình độ chuyên môn cao, có năng lực và kinh nghiệm cho các doanh nghiệp của nền kinh tế, cho các Tổ chức Quốc tế, các đơn vị sự nghiệp và các cơ quan quản lý nhà nước.

Năm là, Hội nghề nghiệp về kiểm toán đã thực sự hoạt động theo mô hình của Hội nghề nghiệp chuyên nghiệp quốc tế, đóng góp có hiệu quả vào sự phát triển của ngành KTĐL.

VACPA được tổ chức theo mô hình một cấp từ Trung ương, hoạt động theo nguyên tắc độc lập, trung thực, minh bạch, tất cả vì lợi ích của Hội viên, lấy công tác chuyên môn làm trọng tâm hoạt động, là cầu nối giữa cơ quan Quản lý Nhà nước với các Công ty kiểm toán và các KTV, đã khẳng định được vai trò tích cực của Hội trong tiến trình phát triển ngành KTĐL. VACPA cùng với Đoàn Luật sư Việt Nam trở thành 2 tổ chức nghề nghiệp có tính chuyên sâu và chuyên nghiệp cao nhất ở Việt Nam. VACPA trở thành thành viên tin cậy của CAPA và thành viên có trách nhiệm của IFAC là hai Tổ chức có uy tín nhất về nghề nghiệp của Châu Á Thái Bình Dương và thế giới.

Nhìn lại 25 năm phát triển của ngành KTĐL, những thành công đạt được là rất to lớn, rất đáng tự hào và trân trọng. Song quá khứ chỉ là phương tiện, tương lai mới là mục đích; nhớ lại và suy ngẫm, thấy được những bất cập hiện nay, nhìn về phía trước, chúng ta phải làm gì và làm thế nào để ngành KTĐL phát triển mạnh mẽ hơn, vững chắc hơn trong những chặng đường tiếp theo; tôi có một vài suy nghĩ như sau:

1. Về khuôn khổ thể chế.

Trước đòi hỏi của sự phát triển ngành KTĐL trong giai đoạn hiện nay và yêu cầu hội nhập sâu rộng vào thị trường khu vực và quốc tế , khuôn khổ pháp lý của hoạt động KTĐL cần được rà soát, nâng cấp theo đúng yêu cầu tại Nghị quyết 35 của Chính phủ về hỗ trợ phát triển doanh nghiệp với tinh thần Nhà nước kiến tạo, Chính quyền phục vụ và hỗ trợ doanh nghiệp, tạo điều kiện cải thiện môi trường kinh doanh, tôn trọng quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật. Với yêu cầu đó, cần loại bỏ các quy định không còn phù hợp trong các Văn bản quy phạm pháp luật về Quản lý hành nghề KTĐL; về thẩm quyền và hình thức ban hành Chuẩn mực kiểm toán theo hướng phù hợp với thông lệ quốc tế; về trách nhiệm và sự phối hợp giữa cơ quan quản lý Nhà nước và Hội nghề nghiệp trong kiểm soát chất lượng dịch vụ kiểm toán; về tổ chức thi KTV theo hướng cơ quan quản lý nhà nước không trực tiếp thực hiện các dịch vụ công, gắn thẩm quyền tổ chức thi với thẩm quyền cấp chứng chỉ KTV theo thông lệ, rút ngắn điều kiện dự thi về thời gian thâm niên công tác tương tự như quy định của các nước và khắc phục tồn tại cố hữu trong nội dung thi nặng về lý thuyết, kiến thức hàn lâm, thi KTV mới chỉ nhằm chủ yếu để cấp chứng chỉ mà không chú trọng đến việc nâng cấp về kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của KTV. Hệ thống luật pháp về KTĐL phải tiến tới hài hòa với luật pháp các nước trong khu vực và quốc tế, thúc đẩy việc nâng cao năng lực chuyên môn và chất lượng dịch vụ kiểm toán, nhanh chóng đưa ngành KTĐL Việt Nam hội nhập đầy đủ, tiến đến sự công nhận của khu vực và quốc tế. Cần xúc tiến nhanh việc xây dựng mới Hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam tiếp cận với chuẩn mực quốc tế; đặc biệt kiên quyết, kiên trì áp dụng sớm Chuẩn mực quốc tế về lập và trình bày báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) theo khuyến nghị của Ngân hàng Thế giới (WB).

2. Về các Công ty Kiểm toán và Kiểm toán viên.

Các Công ty kiểm toán và KTV phải coi việc nâng cao năng lực chuyên môn và chất lượng dịch vụ kiểm toán, đặc biệt chất lượng báo cáo kiểm toán là yếu tố cốt tử quyết định sự tồn tại và phát triển của công ty, của nghề kiểm toán. Muốn vậy, cần phải thường xuyên đào tạo, huấn luyện KTV, nhân viên chuyên nghiệp về kiến thức, pháp luật, trao đổi thông tin, kỹ năng nghề nghiệp và phương pháp làm việc, đặc biệt là việc duy trì, tuân thủ nghiêm đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán. Mỗi công ty kiểm toán, nhất là các công ty vừa và nhỏ phải xây dựng và thực thi nghiêm túc Quy chế quản lý, kiểm soát chất lượng, xác định rõ trách nhiệm thực thi, trách nhiệm soát xét, kiểm soát chất lượng qua từng khâu công việc, từng cấp độ nhân viên. Mỗi KTV phải nhận thức một cách đầy đủ và trở thành ý thức tự giác trong việc đề cao và tuân thủ đạo đức nghề nghiệp, kỷ luật hành nghề, kiên trì phòng ngừa và chống sai phạm về đạo đức nghề nghiệp. Trong toàn ngành phải kiên quyết chống tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giảm giá phí kiểm toán, dẫn đến chất lượng kiểm toán không đảm bảo. Từng công ty phải có kế hoạch, giải pháp tái cơ cấu toàn diện công ty, phát huy thế mạnh, khắc phục hạn chế, yếu kém. Khuyến khích các công ty kiểm toán nhỏ liên kết, hợp tác, sáp nhập với nhau trên nguyên tắc tự nguyện để có quy mô đủ lớn, có điều kiện nâng cao trình độ, năng lực, kinh nghiệm chuyên môn đứng vững trong cạnh tranh, phát triển và hội nhập.

3. Về Hội nghề nghiệp Kiểm toán độc lập.

Cần khẳng định và đề cao địa vị pháp lý của Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) trong khuôn khổ thể chế về KTĐL, trong đó cần quy định một trong những điều kiện được đăng ký hành nghề của KTV là phải tham gia Hội nghề nghiệp về kiểm toán theo đúng thông lệ quốc tế.

VACPA cần đổi mới toàn diện phương thức hoạt động lấy Hội viên làm trọng tâm, nâng cao năng lực quản lý, đổi mới cơ chế vận hành, sẵn sàng tiếp nhận và hoàn thành các nhiệm vụ quản lý hành nghề kiểm toán do cơ quan nhà nước chuyển giao, để Hội thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn của một tổ chức nghề nghiệp chuyên nghiệp theo thông lệ quốc tế. Theo đó, VACPA thực hiện các nhiệm vụ: Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho KTV, đào tạo cập nhật kiến thức hàng năm cho KTV hành nghề; xem xét điều kiện, công khai danh sách, thống nhất quản lý hành nghề đối với doanh nghiệp kiểm toán và KTV hành nghề; kiểm tra việc tuân thủ pháp luật về kế toán, kiểm toán và chất lượng dịch vụ trong các công ty kiểm toán; tổ chức soạn thảo và công bố Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam dưới hình thức văn bản hướng dẫn về yêu cầu, nguyên tắc, thủ tục kiểm toán thay vì văn bản quy phạm pháp luật; tổ chức thi tuyển KTV, cấp chứng chỉ KTV, tiến tới chuyển sang " Chứng chỉ Hội viên” theo quy chuẩn quốc tế, tương tự như Chứng chỉ ACCA, Chứng chỉ CPA Mỹ, Chứng chỉ CPA Australia...

Về lâu dài để thực hiện cải cách hành chính, Nhà nước cần nghiên cứu và tổ chức lại các hội nghề nghiệp và kế toán, kiểm toán theo hướng hội nghề nghiệp chuyên nghiệp cả hai lĩnh vực tập trung vào một mối theo đúng mô hình phổ biến trên thế giới và chỉ có Hội nghề nghiệp chuyên nghiệp này mới thực hiện các nhiệm vụ quản lý hành nghề do cơ quan nhà nước chuyển giao. Đối với các hội nghề nghiệp mang tính xã hội (quần chúng) về kế toán được thành lập theo nguyên tắc tự nguyện, hoạt động như mọi hội xã hội nghề nghiệp khác.

Trên đây là một vài suy nghĩ về 3 trụ cột của KTĐL: Cơ quan quản lý Nhà nước; Các công ty Kiểm toán, đội ngũ KTV và Tổ chức nghề nghiệp về kiểm toán. Với thế chân kiềng được củng cố vững chắc, với sự sung sức của tuổi 25, tôi hoàn toàn tin tưởng rằng KTĐL Việt Nam sẽ có bước phát triển nhẩy vọt, đạt nhiều thành công hơn nữa trong những chặng đường đi tới

Hà Nội ngày 10 tháng 06 năm 2016

Trích nguồn: VACPA
Số lượt đọc: 4060

Đánh giá bài viết
Kết quả